Thế mạnh và sự khác biệt

                      

1. Về điều kiện tự nhiên

Bắc Giang có vị trí địa lý thuận lợi để thu hút đầu tư thông qua hợp tác và liên kết kinh tế với các tỉnh lân cận và các trung tâm kinh tế lớn (Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh). Bắc Giang đủ điều kiện hội nhập trực tiếp với sự phát triển của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ.

Thứ nhất, Bắc Giang là tỉnh thuộc vùng Thủ đô Hà Nội, ở điều kiện thuận lợi là hạ tầng kỹ thuật và xã hội của vùng đang được tập trung xây dựng đồng bộ và hiện đại. Trong vùng, Bắc Giang được xem là cửa ngõ xuất nhập khẩu, trung tâm tiếp vận - trung chuyển hàng hóa của Vùng Thủ đô Hà Nội với cửa khẩu quốc tế Hữu Nghị (Lạng Sơn). Sức cạnh tranh của Bắc Giang đang được củng cố đáng kể thông qua hệ thống đường giao thông kết nối với Trung Quốc qua cửa khẩu Hữu Nghị.

Thứ hai, Bắc Giang nằm dọc tuyến đường vành đai, cao tốc liên tỉnh, cụ thể Bắc Giang nằm trên hành lang cao tốc quốc lộ 1A (qua Hà Nội-Bắc Ninh-Bắc Giang-Lạng Sơn), thuộc trục không gian công nghiệp-đô thị theo hành làng kinh tế Hà Nội-Bắc Giang-Lạng Sơn, đây cũng là 1 trong 6 hành lang vận tải chính của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Ngoài ra, Bắc Giang còn nằm trong hành lang kinh tế Lạng Sơn-Hà Nội-Thành phố Hồ Chí Minh-Mộc Bài (hành lang xuyên Á Nam Ninh-Singapore), có cơ hội tham gia sự kết nối với các trung tâm đô thị, cảng biển/hàng không trên tuyến hành lang kinh tế này.

Lợi thế vị trí này càng đậm nét khi quy mô thương mại Việt Nam- Trung Quốc tiếp tục duy trì tốc độ gia tăng cao, nhất là xuất khẩu từ Việt Nam sang Trung Quốc đã có sự gia tăng lớn trong vài năm gần đây. Trong bối cảnh đó, kim ngạch xuất nhập khẩu qua các cửa khẩu của tỉnh Lạng Sơn cũng tăng trưởng mạnh, năm 2017 đạt mức cao nhất 4,65 tỷ USD và tiếp tục tăng trong các năm tới, một trong những yếu tố góp phần sự gia tăng này đó là có làn sóng đầu tư của các nhà đầu tư Trung Quốc vào các tỉnh miền Bắc Việt Nam để tận dụng lợi thế vị trí địa lý có thể kết nối sản xuất với công ty mẹ ở Trung Quốc (Quảng Đông). Bắc Giang do đó có thể trở thành một trung tâm logistic lớn của vùng nằm trên hành lang kinh tế Lạng Sơn - Hà Nội nhờ vào điều kiện thuận lợi này.

Thứ ba, Bắc Giang nằm trong vùng kinh tế năng động, các địa phương lân cận đã có thành công trong thu hút đầu tư, đặc biệt là đầu tư từ các tập đoàn đa quốc gia lớn trên thế giới gồm Samsung, Cannon, Foxconn, ABB, Sumitomo. Đây là một lợi thế cho Bắc Giang vì các công ty đa quốc gia thường lựa chọn đặt vị trí/đầu tư dựa trên yếu tố có tích tụ kinh tế.

 Việc thu hút FDI, nhất là các tập đoàn công nghiệp đa quốc gia hàng đầu thế giới là rất quan trọng vì những lợi ích về việc làm, chuyển giao công nghệ và quan trọng nhất là nếu các doanh nghiệp nhỏ và vừa bản địa xây dựng được chuỗi cung ứng cho các tập đoàn này.

2. Về cơ sở hạ tầng

- Hạ tầng giao thông

Bắc Giang có hệ thống giao thông khá phong phú (gồm cả đường bộ, đường sắt và đường thủy). Đường bộ là hệ thống giao thông quan trọng nhất của Bắc Giang, trong thời gian vừa qua, trên địa bàn tỉnh có nhiều dự án đầu tư xây dựng các tuyến giao thông quan trọng tỉnh đã triển khai đầu tư; nhiều dự án có tác động quan trọng đến phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh như đường cao tốc Hà Nội – Lạng Sơn (đoạn Hà Nội – Bắc Giang), đường tỉnh 293, 398, quốc lộ 17… Hiện nay và dự kiến trong thời gian tới, trên địa bàn tỉnh đang và sẽ triển khai các dự án giao thông quan trọng, tạo kết nối, hướng phát triển mới cho phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh như đường cao tốc Hà Nội – Lạng Sơn (đoạn Bắc Giang – Lạng Sơn), đường vành đai IV Hà Nội, quốc lộ 17, 37, cải tạo các tuyến đường tỉnh, đường huyện.

- Hạ tầng các khu công nghiệp

Đến nay, Bắc Giang đã quy hoạch và triển khai 06 KCN với tổng diện tích 1.460ha. Các KCN của tỉnh được quy hoạch ở những nơi rất thuận tiện về giao thông: 05 KCN quy hoạch dọc theo quốc lộ 1A và 01 KCN nằm tiếp giáp với KCN Yên Phong – Bắc Ninh. Hiện có 04 KCN đã đi vào hoạt động với tổng diện tích quy hoạch 1.063ha (bao gồm: KCN Đình Trám; KCN Song Khê- Nội Hoàng; KCN Vân Trung; KCN Quang Châu); Còn lại 02 KCN đang trong giai đoạn hoàn thiện các thủ tục để thu hút đầu tư, trong đó KCN Hòa Phú hiện nay đang thực hiện bồi thường, GPMB; KCN Việt Hàn đã lập quy hoạch chi tiết xây dựng ½.000.

Các KCN của tỉnh đều được triển khai tại các vị trí hết sức thuận lợi về giao thông, gần với các KCN tại các tỉnh, thành có kinh tế phát triển như Hà Nội, Bắc Ninh nên rất thuận lợi cho việc giao thương, luân chuyển hàng hóa của các doanh nghiệp.

- Về hạ tầng các CCN

Số lượng các CCN của tỉnh Bắc Giang tương đối nhiều. Đến nay, tỉnh có 38 CCN với tổng diện tích quy hoạch là 1.208 ha và được triển khai rộng khắp tại các huyện, thành phố. Các CCN đều được quy hoạch và triển khai tại các trục, tuyến giao thông thuận lợi của tỉnh (các tỉnh lộ, quốc lộ).

- Hạ tầng điện

Bắc Giang là tỉnh có hệ thống cung cấp điện khá tốt. Hiện nay 100% xã đã được cấp bằng điện lưới quốc gia, hệ thống điện đã phủ kín đến toàn bộ các thôn, bản của tỉnh. Nguồn điện cung cấp cơ bản đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, đặc biệt là cung cấp điện phục vụ sản xuất công nghiệp.

UBND tỉnh đã quyết liệt chỉ đạo Công ty Điện lực Bắc Giang báo cáo, đề nghị Tập đoàn điện lực Việt Nam và Tổng công ty điện lực Miền Bắc ưu tiên bố trí nguồn vốn xây dựng mới và cải tạo lưới điện đảm bảo cung cấp nguồn điện cho các khu, cụm công nghiệp, trong đó một số công trình trọng điểm đã hoàn thành. Việc tích cực đầu tư xây dựng cải tạo hệ thống lưới điện và củng cố công tác quản lý, vận hành đã nâng cao khả năng cấp điện cho các doanh nghiệp.

- Hạ tầng nước sạch

Việc cấp, thoát nước đô thị và khu vực nông thôn thời gian qua có tiến bộ nhờ được đầu tư theo chương trình nước sạch sinh hoạt đô thị, nước sinh hoạt nông thôn và chương trình sử dụng nguồn vốn ODA. Bên cạnh đó, tỉnh đã thu hút được nhiều nhà đầu tư xây dựng các công trình cấp nước sạch, nước sinh hoạt tập trung khu vực nông thôn, góp phần nâng cao chất lượng sống cho nhân dân và giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước. Ngoài ra, UBND tỉnh đã chấp thuận đầu tư cho 18 dự án nước sạch trên địa bàn tỉnh với tổng mức đầu tư đăng ký đạt 2.232 tỷ đồng với công suất đạt 165.000 m3/ngày, đêm. Đặc biệt, tỉnh đã chấp thuận đầu tư cho Dự án Nhà máy nước sạch DNP Bắc Giang của Công ty CP Đầu tư hạ tầng ngành nước DNP Bắc Giang, công suất giai đoạn 1 là 25.000 m3/ngày, đêm, giai đoạn 2 là 59.000 m3/ngđ, có thể mở rộng lên 80.000 m3/ngđ. Dự án đã đi vào hoạt động giai đoạn 1 từ tháng 8/2018. Khi dự án hoàn thành sẽ đáp ứng cơ bản nhu cầu cấp nước cho thành phố Bắc Giang và các Khu, CCN dọc theo tuyến Quốc lộ 1A và vùng phụ cận.

- Hạ tầng khác

Hạ tầng thương mại phát triển khá đa dạng với hệ thống chợ ở hầu khắp các xã; các siêu thị, trung tâm thương mại tập trung tại khu vực đô thị, khu đông dân cư.

Hệ thống mạng lưới cơ sở giáo dục, đào tạo, y tế cơ bản đáp ứng được nhu cầu học tập, khám chữa bệnh của nhân dân. Đặc biệt, tỉnh đã thu hút được các nguồn lực xã hội để phát triển giáo dục, đào tạo, y tế.

Các dự án đầu tư xây dựng nhà ở cho công nhân đã được UBND tỉnh quan tâm kêu gọi đầu tư, bước đầu đã thu hút được một số doanh nghiệp đầu tư xây dựng nhà ở cho các công nhân tại các khu công nghiệp.

Hạ tầng khách sạn, đô thị, dịch vụ vui chơi giải trí từng bước được quan tâm đầu tư đáp ứng nhu cầu vui chơi giải trí của nhân dân và doanh nghiệp.

3. Về môi trường đầu tư kinh doanh

- Công tác quản lý, điều hành của cơ quan nhà nước (môi trường chính trị)

Công tác quản lý, điều hành của các cơ quan nhà nước có đổi mới theo hướng chủ động, quyết liệt, sâu sát, có trọng tâm, rõ nhiệm vụ từng tổ chức và cá nhân, gắn trách nhiệm và xếp loại người đứng đầu trong thực thi công vụ, kịp thời kiến nghị giải quyết một số vấn đề bất cập trong quản lý nhà nước và đời sống xã hội. Việc cụ thể hóa, ban hành cơ chế, chính sách và công tác quy hoạch được chú trọng, công khai, minh bạch hơn.

Tỉnh đã tập trung chỉ đạo cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh. Tỉnh ủy đã ban hành Nghị quyết chuyên đề về cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh để thu hút đầu tư. Do vậy. Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của tỉnh đã có những bước cải thiện, điểm PCI cũng như xếp hạng PCI của tỉnh liên tục tăng, năm 2014 xếp thứ 41, năm 2016 xếp thứ 33 và năm 2017 xếp thứ 30. So với năm 2014, năm 2017 có tới 08/10 chỉ số thành phần của chỉ số PCI tăng điểm, 02 chỉ số thành phần giảm điểm là “chi phí gia nhập thị trường” và “chi phí thời gian”. Các chỉ số tăng điểm đã góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh. Thời gian gần đây, cải cách hành chính đã được Tỉnh coi là khâu đột phá để cải thiện PCI, trong đó, cơ chế “một cửa” đã và đang trở thành điểm sáng của các cải cách này. Đặc biệt, năm 2016, tỉnh đã thành lập và đưa vào hoạt động Trung tâm Hành chính công cấp tỉnh, đã tạo điều kiện rất thuận lợi để các nhà đầu tư, doanh nghiệp thực hiện các thủ tục hành chính, góp phần tiết kiệm thời gian, chi phí. Ngoài ra, Tỉnh đã ban hành nhiều cơ chế chính sách về khuyến khích, hỗ trợ và tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiêp, cải thiện môi trường đầu tư và năng lực điều hành của chính quyền.

- Về môi trường kinh tế

Trong thời gian qua, tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh liên tục đạt ở mức cao. Giai đoạn 2011-2017, tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân của tỉnh cao gấp gần 2 lần cả nước, đạt 10,9%/năm (trong đó, năm 2017 tăng trưởng đạt 13,3%). Tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng cao và duy trì ổn định giúp cho quy mô nền kinh tế của tỉnh ngày càng được mở rộng, thúc đẩy đầu tư kinh doanh, mở rộng giao lưu hợp tác trên tất cả các lĩnh vực.

Đội ngũ doanh nghiệp, doanh nhân ngày càng phát triển cả về số lượng và chất lượng. Tính đến hết tháng 6/2018, toàn tỉnh có trên 7.600 doanh nghiệp được thành lập và đăng ký hoạt động, gấp trên 3 lần so với số lượng doanh nghiệp thời điểm năm 2010. Các phong trào khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo phát triển tương đối mạnh mẽ.

- Về môi trường pháp lý

Thời gian qua, các cơ chế, chính sách tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất kinh doanh, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh của tỉnh đã được quan tâm. Tỉnh đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách trên các lĩnh vực để nâng cao hiệu quả quản lý, thu hút đầu tư các nguồn lực cho phát triển như: Nghị quyết số 73-NQ/TU của Tỉnh ủy về cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh giai đoạn 2016-2020; Nghị quyết 34/2016/NQ-HĐND của HĐND tỉnh quy định cơ chế, chính sách hỗ trợ đầu tư xây dựng cảng, bến thủy nội địa; Nghị quyết 06/2013/NQ-HĐND về dồn điền, đổi thửa, xây dựng cánh đồng mẫu; Nghị quyết 46/2016/NQ-HĐND quy định chinh sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2017-2020; ban hành danh mục các dự án thu hút đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp... Các cơ chế, chính sách được ban hành và triển khai thực hiện đã tạo hành lang pháp lý, khuyến khích, thúc đẩy các doanh nghiệp đầu tư sản xuất kinh doanh.

- Về môi trường văn hóa

Các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp, thuần phong, mỹ tục được quan tâm để bảo tồn, giữ gìn; đó là “sức mạnh mềm”, tiềm năng “tiềm ẩn” trong quá trình hội nhập.

4. Về nguồn nhân lực

Bắc Giang có nguồn dân số dồi dào so với các địa phương lân cận, đây là một lợi thế phục vụ phát triển kinh tế. Dân số trung bình của Bắc Giang năm 2017 là 1,67 triệu người, trong đó dân số trong độ tuổi lao động trên 1 triệu người là nguồn bổ sung lực lượng lao động quan trọng phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Ngoài ra, Bắc Giang có cơ cấu dân số số trẻ, kỳ vọng sẽ hấp thụ tốt sự tiến bộ khoa học và kỹ thuật.

Hệ thống các trường đào tạo chuyên nghiệp và dạy nghề tăng cả về số lượng, qui mô học sinh, chất lượng và hình thức đào tạo. Mạng lưới và quy mô các cơ sở dạy nghề tiếp tục được phát triển theo hướng xã hội hóa. Năm 1998, toàn tỉnh có 08 cơ sở dạy nghề, không có cơ sở nào đào tạo nghề trình độ cao đẳng nghề, đến nay đã có 72 cơ sở, trong đó có 02 trường cao đẳng nghề (tăng 64 cơ sở dạy nghề, gấp 9 lần so với năm 1998). Bên cạnh đó, các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh đang tham gia vào quá trình đào tạo nghề, bước đầu đã có sự liên kết chặt chẽ giữa có sở đào tạo với nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp. Tính chung 20 năm, toàn tỉnh đã tổ chức dạy nghề cho trên 380 nghìn lượt lao động, qua đó đã nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 8% năm 1998 lên 58,5% năm 2017.

5. Về lựa chọn dự án đầu tư

Chủ trương lựa chọn các dự án đầu tư có chất lượng, hiệu quả đã được Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh quan tâm chỉ đạo. UBND tỉnh đã đề ra nhiều chủ trương, giải pháp để lựa chọn, khuyến khích các dự án đầu tư, cũng như hạn chế các dự án đầu tư trong một số lĩnh vực như: Ban hành Quyết định số 330/2012/QĐ-UBND ngày 09/10/2012 Quy định trình tự thực hiện các dự án đầu tư bên ngoài các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh (nay được thay thế bởi Quyết định số 244/2016/QĐ-UBND ngày 29/4/2016), trong đó có quy định suất đầu tư tối thiểu đối với các dự án đầu tư trong các lĩnh vực nhằm sử dụng tiết kiệm, hiệu quả đất đai; quy định về ký quỹ đảm bảo thực hiện dự án nhằm lựa chọn được các nhà đầu tư có năng lực triển khai thực hiện dự án; Quyết định số 652/QĐ-UBND ngày 16/11/2015 phê duyệt danh mục một số dự án không khuyến khích đầu tư bên ngoài các khu công nghiệp nhằm hạn chế các dự án có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường như: Chăn nuôi gia súc; tái chế phế liệu; sản xuất bột giấy;...

Bên cạnh đó, để thẩm định công nghệ của các dự án, nhất là những dự án trong một số lĩnh vực có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 28/2017/QĐ-UBND ngày 04/8/2017 về thẩm định công nghệ các dự án đầu tư.

6. Về xúc tiến đầu tư

Công tác xúc tiến đầu tư trong thời gian qua được tỉnh quan tâm chỉ đạo thực hiện; nguồn lực dành cho công tác xúc tiến đầu tư cũng được quan tâm bố trí. Trong những năm vừa qua, UBND tỉnh cũng đã tổ chức nhiều hội nghị xúc tiến đầu tư; tổ chức các Đoàn Công tác xuống thăm hỏi, động viên các nhà đầu tư, đồng thời tổ chức các buổi làm việc, đối thoại trực tiếp giữa chính quyền và nhà đầu tư để kịp thời tháo gỡ khó khăn trong quá trình thực hiện dự án; tổ chức các đoàn đi xúc tiến đầu tư tại một số nước có nhiều tiềm năng.

Lãnh đạo tỉnh và các sở, ban, ngành đã duy trì phối hợp với một số tổ chức quốc tế tại Việt Nam và cơ quan Đại diện của Việt Nam tại nước ngoài thông qua việc trao đổi thông tin, tài liệu xúc tiến đầu tư như: Cơ quan hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA); Cơ quan Xúc tiến Thương mại Nhật Bản (JETRO); Cơ quan xúc tiến Thương mại Hàn Quốc (KOTRA); Văn phòng Kinh tế & Văn hoá Đài Bắc (Đài Loan) để quảng bá, giới thiệu tiềm năng thế mạnh của tỉnh và vận động, kêu gọi đầu tư vào tỉnh.

7. Về việc ban hành và thực hiện các chính sách ưu đãi, khuyến khích đầu tư

Để đẩy mạnh thu hút các dự án đầu tư vào tỉnh, trong những năm qua tỉnh Bắc Giang đã quan tâm xây dựng và ban hành nhiều cơ chế, chính sách liên quan đến công tác quản lý nhà nước về đầu tư như: Hội đồng nhân dân tỉnh đã ban hành Nghị quyết 34/2016/NQ-HĐND của HĐND tỉnh quy định cơ chế, chính sách hỗ trợ đầu tư xây dựng cảng, bến thủy nội địa; Nghị quyết 46/2016/NQ-HĐND quy định chinh sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2017-2020;

 UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 34/2002/QĐ-UB ngày 07/3/2002 ban hành Quy định ưu đãi, khuyến khích đầu tư trên địa bàn tỉnh Bắc Giang, thời kỳ 2002-2010 (được hủy bỏ bới Quyết định số 11/QĐ-UBND ngày 17/02/2016 cảu UBND tỉnh); Quyết định số 227/2014/QĐ-UBND ngày 24/4/2014 quy định thu hút đầu tư theo quy hoạch đường Nguyễn Văn Cừ, thành phố Bắc Giang; Quyết định số 274/2016/QĐ-UBND ngày 17/5/2016 Quy định miễn, giảm tiền thuê đất đối với các cơ sở xã hội hóa;…

Ngoài ra, để tăng nguồn lực cho đầu tư phát triển, tỉnh đã thành lập quỹ phát triển đất, quỹ đầu tư phát triển, quỹ bảo trì đường bộ ... là kênh quan trọng để huy động, triển khai các dự án đầu tư. Qua việc ban hành các cơ chế, chính sách đã góp phần giải quyết được các tồn tại, điểm nghẽn, huy động thêm được các nguồn lực cho đầu tư phát triển.

Các quy định nêu trên đã cụ thể hóa các quy định của Luật và các Nghị định hướng dẫn thi hành cho phù hợp với tình hình thực tế của địa phương.

8. Về thủ tục hành chính

Lãnh đạo tỉnh rất quan tâm, quyết liệt chỉ đạo cải cách các thủ tục hành chính theo hướng đơn giản hóa, rút ngắn thời gian giải quyết các thủ tục hành chính, đặc biệt là các thủ tục liên quan đến đầu tư, thuế, xây dựng, giao đất, cho thuê đất. Các thủ tục hành chính đã được công bố công khai trên các website của UBND tỉnh và các sở, ngành để người dân và doanh nghiệp dễ dàng nắm bắt và thực hiện.

Trung tâm Hành chính công tỉnh được thành lập và bắt đầu đi vào hoạt động từ tháng 9/2016 tạo điều kiện cho doanh nghiệp, nhà đầu tư thực hiện các thủ tục hành chính. Hiện Trung tâm hành chính công thực hiện tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả của 18 sở, ngành thuộc UBND tỉnh và 03 cơ quan ngành dọc Trung ương đóng trên địa bàn tỉnh (Công an tỉnh, Cục Thuế tỉnh, Bảo hiểm xã hội tỉnh). UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 58/KH-UBND ngày 26/5/2015 về thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông tại các cơ quan hành chính nhà nước tỉnh Bắc Giang, Quyết định số 711/2015/QĐ-UBND ban hành Quy chế về thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông tại các cơ quan hành chính nhà nước tỉnh Bắc Giang, trong đó nêu rõ trách nhiệm của từng cơ quan, tổ chức trong việc triển khai thực hiện; Quyết định số 19/2017/QĐ-UBND ngày 20/6/2017 quy định Danh mục, thời hạn giải quyết thủ tục hành chính thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại Trung tâm Hành chính công; các sở, ngành đã đưa 100% thủ tục hành chính ra tiếp nhận và trả kết quả tại Trung tâm. Hiện nay, Trung tâm hành chính công cung cấp 389 dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và 134 dịch vụ công trực tuyến mức độ 4. Trang thông tin Hành chính công tỉnh Bắc Giang, tại địa chỉ: hcc.bacgiang.gov.vn được cài đặt, kết nối về Trung tâm tích hợp dữ liệu của tỉnh để quản lý, theo dõi. Phần mềm trang thông tin Hành chính công được xây dựng đáp ứng đầy đủ các chức năng, như: Tra cứu tình trạng giải quyết thủ tục, hướng dẫn TTHC; cung cấp các dịch vụ công trực tuyến cho người dân, doanh nghiệp; kết nối thông tin hỏi đáp từ người dân, doanh nghiệp; tổng hợp, thống kê số liệu và tình hình kết quả giải quyết thủ tục hành chính của các sở, ngành, 10/10 huyện, thành phố và 230 xã, phường, thị trấn. Ngoài ra, mô hình một cửa điện tử đã được triển khai đến 10/10 huyện, thành phố.